BỆNH Ở TUYẾN DẠ DÀY – RUỘT
Biên soạn: Bùi Huy Bằng
Theo sách:
Методики доктора Д. В. Наумова
(Các phương pháp luận của TSKH Đ.V. Naumov)
Редакция вестника “ЗОЖ”, 2007
“Bệnh nhân cần không phải là chữa trị,
mà là nuôi dưỡng đúng cách”
“Điều liên quan đến y học thì hiển nhiên đã rõ ràng.
Mô hình của xã hội hiện đại là thế này, tất cả đều
muốn kiếm chác trên các bệnh tật của con người:
từ các bác sĩ đến các tập đoàn bảo hiểm và các tập
đoàn chế biến thuốc!”
Đ.V. Naumôv
Tiến sĩ khoa học Y khoa
NGUYÊN NHÂN SINH BỆNH Ở TUYẾN DẠ DÀY – RUỘT
Có 3 nguyên nhân chính:
1- Do sử dụng lâu ngày thức ăn mang tính kiềm (pH>7). Chẳng hạn đồ ăn kiêng từ thực vật, trong đó khẩu phần ăn thiếu rau muối chua, thịt, mỡ, trứng, pho mát tươi, váng sữa,…
2- Do hội chứng đau dạ dày – đốt sống: phần cột sống vùng ngực bị hư xương sụn (thoái hóa), chèn ép các bó dây thần kinh chi phối tuyến dạ dày- ruột, làm cho tuyến này hoạt động không bình thường.
3- Do stress, gây ức chế khả năng hoạt động của nhiều cơ quan trong cơ thể, đồng thời dây thần kinh phế vị có thể bị kích thích dẫn đến môn vị suy yếu, tiêu chảy v.v.
Nguyên nhân thứ 2 có thể khắc phục bằng cách luyện tập để kéo dãn và nắn thẳng cột sống theo phương pháp luận của Iu.V. Pôpôp (xem tài liệu kèm theo).
Nguyên nhân thứ 3 có thể khắc phục bằng biện pháp tâm lý, chủ yếu là ổn định tư tưởng, tinh thần và điều chỉnh cảm xúc theo hướng lành mạnh.
Dưới đây đề cập đến nguyên nhân thứ 1- nguyên nhân diễn ra hàng ngày.
Sơ lược về tuyến dạ dày – ruột:
MÔN VỊ - bộ phận có cấu tạo bởi cơ đai thắt có chức năng như một cái VAN, ngăn cách khoang dạ dày với khoang hành tá tràng. Theo giải phẫu sinh lý, môi trường trong dạ dày là AXÍT (pH<7), ở người bình thường pH ≈ 2; môi trường trong hành tá tràng là KIỀM (pH>7). Đi kèm để phục vụ cho quá trình tiêu hóa còn có gan, mật, tụy. Ở người khỏe, van (môn vị) thường xuyên đóng, ở người bệnh khả năng co bóp giảm (do nhão cơ thắt), van ở trong trạng thái mở kéo dài.
Khả năng hoạt động bình thường của van phụ thuộc chủ yếu vào cách nạp dinh dưỡng. Nếu trong đồ ăn có prôtít hoặc thức ăn chua (chẳng hạn rau muối chua), nghĩa là chúng mang tính axít (pH<7) thì axit clohydric (HCl) và dịch vị có trong dạ dày bắt đầu phân tách các mảnh thức ăn đó thành axit amin, glyxerin và axit béo rồi được hấp thụ qua dạ dày vào máu. Khi đó, độ axit của dạ dày giảm, van mở để các mảnh thức ăn chưa tiêu hóa hết mang tính kiềm (pH>7) tuồn xuống hành tá tràng. Trong dạ dày lại hình thành axit clohydric, van lập tức đóng, nghĩa là môi trường axit của dạ dày lại được ngăn cách với môi trường kiềm của hành tá tràng. Quá trình này cứ lặp đi lặp lại. Còn ở hành tá tràng thức ăn mang tính kiềm tiếp tục được tiêu hóa nhờ dịch tụy và dịch mật cũng mang tính kiềm, rồi tuồn xuống dưới qua ruột non, ruột già. Các chất bổ dưỡng (axit amin, glyxerin, axit béo) được hấp thụ nốt qua hệ thống ruột vào máu, còn cặn bã tích lại ở trực tràng để thải ra ngoài.
Đây là hoạt động bình thường của van (môn vị), đặc trưng cho cơ thể khỏe mạnh. Nếu trạng thái này bị phá vỡ bởi 3 nguyên nhân chủ yếu nêu trên, trong đó có nguyên nhân thứ 1 làm van (môn vị) suy yếu, mở kéo dài thì sẽ xảy ra tình trạng:
1)- Thức ăn mang tính kiềm trào ngược sang dạ dày làm cho dạ dày bị kiềm hóa, niêm mạc dạ dày bị teo dần, rồi viêm loét, biến dạng và kéo theo mô của môn vị bị viêm nhiễm làm cho nó nhão ra và càng suy yếu thêm.
2)- Thức ăn trong dạ dày chưa kịp tiêu hóa, mang tính axit, tuồn sớm xuống hành tá tràng làm cho hành tá tràng bị axit hóa dẫn đến bệnh tương tự như ở dạ dày.
3)-Khi môi trường ở hành tá tràng bị axit hóa thì tuyến tụy và tuyến mật bị ức chế sinh ra viêm nhiễm.
4)- Thức ăn ở hành tá tràng mang tính axit không được tiêu hóa hết trong môi trường kiềm, tuồn xuống ruột, bị ô xy hóa, lên men rồi thối rữa bởi vi khuẩn gây hại, gây đầy hơi, làm giảm số lượng và chất lượng chất dinh dưỡng cung cấp cho cơ thể.
Toàn bộ vòng luẩn quẩn nêu trên sẽ làm xuất hiện hàng loạt bệnh trầm trọng mà y học chính thống chưa giải thích đúng bản chất nguyên nhân sinh ra chúng. Như: viêm dạ dày, loét dạ dày và hành tá tràng, viêm loét đại tràng, táo bón, trĩ, viêm túi mật, viêm tụy, nấm canđiđa ở ruột, huyết áp cao, huyết áp thấp, sỏi trong các cơ quan nội tạng, co hẹp các mạch máu, xơ vữa động mạch, hẹp van tim v.v. Theo TSKH Đ.V. Naumov, do nuôi dưỡng lâu ngày không đúng cách làm VAN (MÔN VỊ) đóng mở không đúng lúc hoặc mở kéo dài, do đó khoang dạ dày và khoang hành tá tràng thông nhau, gây ra phản ứng trung hòa AXÍT của dạ dày với KIỀM của hành tá tràng, dẫn đến đầy hơi, hình thành các tinh thể muối không hòa tan như: phốt phát, uralat, ocxalát, tinh thể axit uric và cặn bã lắng đọng trong máu và thành mạch máu dẫn đến các bệnh nói trên.
Việc điều trị các bệnh đó theo y học chính thống chủ yếu là khắc phục triệu chứng (cắt các cơn đau hoặc phẫu thuật) chứ không phải khắc phục nguyên nhân gây bệnh. Điều này gây ra nguy hại về lâu dài. Do căn bệnh chưa được điều trị tận gốc, người bệnh tuy bước đầu cảm thấy dễ chịu, sinh ra ảo tưởng và chủ quan, trong khi đó bệnh vẫn cứ ngấm ngầm tiến triển theo chiều hướng xấu, kết cục căn bệnh trở thành mãn tính, lúc đó việc chữa trị gặp khó khăn và phức tạp.
Từ các phương pháp luận về bệnh ở tuyến dạ dày – ruột, tiến sĩ khoa học Đ.V. Naumôv đưa ra nhiều kết luận quan trọng về nguyên nhân gây bệnh, xin trích dẫn một số kết luận tiêu biểu sau đây:
1)- Không có bệnh loét, về bản chất nó không tự sinh ra. Vì trong quá trình hình thành vết loét thì dịch axit của dạ dày sản sinh quá ÍT (chứ không phải THỪA axit), dịch mật của gan và dịch của tụy cũng vậy, nghĩa là phổ hoạt động của các men tiêu hóa bị thu hẹp.
2)- Xoắn khuẩn HÊLICOBACTER không phải là thủ phạm chính gây ra loét (thuyết về xoắn khuẩn Hêlicobacter đã được giải Nôben). Khoa bệnh lý dạ dày – ruột của Viện hàn lâm Y học Đnheprôpêtrôvxk (Nga) dưới sự lãnh đạo của giáo sư I.I. Gritxenco đã đưa ra các số liệu sau đây: trong số 60% số người phát hiện thấy khuẩn Hêlicobacter chỉ có 4% trong đó có cái gọi là bệnh loét. Hơn nữa xoắn khuẩn này chỉ tồn tại ở môi trường axit yếu (ở dạ dày người bệnh) chứ không thể tồn tại ở môi trường axit mạnh (dạ dày người khỏe). Để diệt trừ xoắn khuẩn Helicobacter người ta dùng kháng sinh (có nguồn gốc là muối axit của nấm) lại càng vây hãm, ức chế hoạt động của gan và tụy (vốn có môi trường kiềm), gây ra bệnh biến dạng vi khuẩn ở ruột, làm xuất hiện các cơn đau ở gan, làm các vết loét tiến triển với mức độ càng phức tạp.
3)- Lượng colexterin cao không phải là nguyên nhân gây bệnh xơ vữa động mạch. Vì, thứ nhất luận thuyết này (của Viện sĩ Anhitrcốp đưa ra năm 1912) dựa trên cơ sở thí nghiệm ở thỏ (động vật ăn cỏ) để suy ra nguyên nhân gây bệnh ở người là không phù hợp; thứ hai có rất nhiều người bị xơ vữa động mạch lại có chỉ số colexterin ở mức chuẩn. Tác giả cho rằng nguyên nhân gây bệnh là do rồi loạn trao đổi chất bởi hệ tiêu hóa hoạt động không bình thường.
4)- Cắt bỏ túi mật do viêm tắc bởi sỏi (khi chưa đe doạ nứt vỡ) không phải là biện pháp tối ưu vì khi túi mật bị loại bỏ thì sỏi vẫn hình thành ở các cơ quan nội tạng khác. Hơn nữa vẫn còn những biện pháp khác để làm tan sỏi.
5)- Nguyên nhân gây viêm tuyến tiền liệt (bệnh của đàn ông) do trục trặc ở hệ bạch huyết chứ không phải là những nguyên nhân được đề cập trong y học chính thống (nhiễm khuẩn đường sinh dục, nhiễm lạnh, stress, rạn cơ), mà nguồn gốc vẫn là rối loạn trao đổi chất do trục trặc ở hệ tiêu hóa gây ra.
CÁCH CHỮA BỆNH
1- Khử kiềm ở dạ dày:
Trước khi ăn sáng 1 giờ, ăn 1/2 cốc (loại 200ml) bã bắp cải tươi.
Cách làm: Cải bắp tươi rửa sạch, nghiền nhỏ vắt lấy bã, nước có thể bỏ đi hoặc giữ lại và bảo quản ở nhiệt độ trong nhà (để lên men) rồi uống vào lúc trước khi đi ngủ, có pha thêm chút muối. Thực hiện trong khoảng 2-3 tuần lễ.
Nếu người có bệnh huyết áp cao - ăn bã củ cải đỏ, có bệnh ợ nóng – ăn bã củ cà rốt, có bệnh thiếu máu – ăn bã quả táo.
2- Axit hóa cơ thể:
Uống nước chua ngâm từ lá bạch khuất thái (chỉ có ở Nga) hoặc từ vỏ chuối.
Cách làm: Dùng bình thủy tinh miệng rộng có dung tích khoảng 3 lít, đổ đến vai bình nước sôi để nguội, hòa một cốc đường và một thìa trà váng sữa (hoặc một thìa ăn sữa chua), khuấy đều. Lấy khoảng mười vỏ quả chuối tiêu loại to, chín lấm tấm (tài liệu không định rõ số lượng), cắt ngang cỡ 3-5mm, cho vào túi vải xô cùng một cục đá đủ nặng để dìm chìm trong đáy bình. Bịt miệng bình bằng 3 lớp vải xô (nếu bình có nắp thì đậy kênh để không khí lọt vào). Để ở nơi tối và thoáng trong nhà, khoảng 2 tuần lễ là dùng được. Nước chua có màu vàng ngà, uống có cảm giác hơi say là đạt yêu cầu. Chắt ra khoảng 1 lít để dùng dần. Còn lại gạn bỏ cặn, bổ sung đủ nước và 1/3 cốc đường, cứ như vậy độ 3-4 lượt thì bỏ bã và làm đợt khác.
Liều dùng: từ một thìa ăn đến 1/3 cốc, hòa với 1/2 cốc nước ấm. Uống 3 lần/ngày, trước bữa ăn 30-40 phút, có thể dùng dài ngày như nước giải khát.
3- Nuôi dưỡng cơ thể đúng cách:
- Không ăn kiêng, không ăn chay.
- Nguyên tắc chung: Bảo đảm đủ và thường xuyên lượng axit nhât là axit clohyđic (HCl) ở mọi dạng thực phẩm để tiêu hóa.Dùng thức ăn mang tính axit vào buổi sáng (khi dạ dày hoạt động mạnh), hạn chế dùng thức ăn mang tính kiềm, nếu muốn sử dụng thì dùng vào buổi chiều (khi hành tá tràng hoạt động mạnh) - Tham khảo phụ lục phía dưới.
Người bệnh, nhất là đang ốm nặng hạn chế dùng đồ ăn chứa nhiều prôtit, mỡ,…Nói chung chỉ nên ăn đến mức vẫn còn thòm thèm.
- Cung cấp đa dạng các prôtit từ thịt, cá, trứng, mỡ (chúng mang tính axit). Ưu tiên sử dụng thực phẩm biển. Nên dùng protit ở phần đầu bữa ăn.
- Rau: Không dùng rau tươi (mang tính kiềm) dưới mọi dạng. Cần ăn rau muối chua từ cải bắp, dưa chuột, cà rốt, củ cải đỏ và các loại nấm. Rau muối phải bảo đảm đủ chua (nén 2-3 tuần lễ), không bổ sung dấm hoặc đường và không kích thích nhiệt độ. Một số người cần thận trọng với cà muối và dưa cải muối (điều này không có trong tài liệu gốc)
- Canh: nấu từ rau muối chua kèm thịt hoặc cá và ninh dừ. Súp: nấu từ cải bắp muối kèm khoai tây và mỡ tảng ninh kỹ có tác dụng rất tốt.
- Cháo: nấu từ hỗn hợp các loại ngũ cốc có bổ sung muối, bơ kem, váng sữa.
- Tránh hoàn toàn dầu thực vật tinh luyện (mang tính kiềm cao). Nên dùng dầu thực vật thô, ép nguội. Nhưng tốt nhất vẫn là dùng mỡ lợn (ngược với quảng cáo hiện nay – NBS).
- Ăn xa lát cần bổ sung váng sữa và một chút muối. Nên ăn sau khi đã ăn các thức ăn có prôtit (mang tính axít).
- Khuyến khích dùng gia vị: tương hạt cải, dấm, hành, tỏi để kích thích tiêu hóa.
- Hoa quả tươi nên ăn vào buổi chiều (vì chúng mang tính kiềm).
4- Uống:
- Nên uống sau khi ăn 1 giờ.
- Uống nước sạch, nước đun sôi để nguội hoặc nước chua (xem điểm 2). Không uống nước chua khi đang chữa bệnh sỏi. Không nên uống nước chanh tươi vì nó mang tính kiềm (xem điểm 6). Uống trà xanh, trà đen thì bổ sung 1-2 thìa trà dấm ăn (loại 9%) vào cốc nước hoặc dấm ngâm lá ngải cứu khô (xem điểm 7).
5- Ngậm muối:
Sau bữa ăn khoảng 30 phút đặt lên đầu lưỡi 0,5-1g muối, chờ muối tan và dịch vị tiết ra càng nhiều càng tốt, xúc miệng nhiều lần rồi nuốt. Biện pháp này nhằm cung cấp Cl trong NaCl để hình thành và bổ sung HCl trong dạ dày. Đối với những bệnh nhân có huyết áp cao, bệnh thận thì sử dụng muối ở phạm vi cho phép.
6- Thuốc uống:
Đối với bệnh ở tuyến dạ dày – ruột tác giả chỉ đề cập đến thuốc UROLEXAN (thuốc của Nga) để củng cố chức năng thận (chưa rõ ở VN có bán không). Uống 10-15 giọt kèm theo 1 viên đường, 3 lần/ngày giữa chừng các bữa ăn.
Ngoài ra có thể tự chế biến dung dịch để tăng cường hệ mạch máu theo cách::
Nguyên liệu gồm: 100 ml thuốc nước glyxerin, 2 quả chanh, 100g mật ong.
Chanh rửa sạch, chần nước sôi, mài cả quả thành bột, trộn ba thứ với nhau, cho vào lọ thủy tinh, để trong tủ lạnh, dùng dần. Uống 1 thìa canh, 3 lần/ngày, sau bữa ăn 1,5 giờ.
7- Xoa người:
Xoa khắp người hoặc chí ít tứ chi bằng dung dịch dấm ăn ngâm lá ngải cứu khô nhằm bổ sung cho cơ thể axit clohydrit (HCl), đồng thời khắc phục tình trạng lạnh ở tứ chi.
Lấy 1/2 lít dấm ăn (9%) ngâm với 1 cốc (loại 200ml) lá ngải cứu khô, để trong 2-3 ngày, lọc lấy dung dịch. Lấy 1 phần dung dịch dấm ngải cứu pha với 2 phần nước ấm, xoa khắp người hoặc tứ chi 3-4 lần/ngày.
8- Nhịn ăn:
Nhịn ăn dài ngày là vấn đề phức tạp, có thể dẫn đến teo dạ dày và các bộ phận khác của tuyến dạ dày – ruột, vì vậy cần có sự tư vấn và theo dõi của chuyên gia. Tuy nhiên nhịn ăn thường kỳ 1 ngày trong 1 tuần lễ sẽ đem lại lợi ích khỏi phải bàn cãi, vì lẽ các men tiêu hóa thực hiện tiếp quá trình tiêu hóa phần thực phẩm còn sót lại hoặc các phần tử không cần thiết trong cơ thể, kết cục toàn cơ thể được thanh lọc.
Cách thực hiện: Buổi chiều trước ngày nhịn, ăn cháo nấu từ hỗn hợp các loại ngũ cốc và cháo bột mì kèm bơ kem. Những thứ này sẽ lưu lại ở ruột một thời gian ngắn và đóng vai trò như các chất hút. Ngày hôm sau, cần uống nước đã được khoáng hóa ở mức độ yếu (với thành phần muối không lớn hơn 0,6g/lít). Kết thúc đợt nhịn, cần ăn bắp cải biển, xúp cải bắp muối, cá biển, cá trích, cải bắp muối, bánh mì trắng để khô, xúp đậu côve. Các thực phẩm này được liệt kê theo trình tự từ dễ tiêu hóa nhất đến khó tiêu hóa hơn./
PHỤ LỤC: Các thực phẩm mang tính kiềm (pH>7).
(Liệt kê theo thứ tự mang tính kiềm cao đến thấp).
Những thực phẩm này hủy hoại môi trường axit của dạ dày nếu dùng nhiều và thường xuyên, đặc biệt là ở những người bệnh. Nếu vẫn có nhu cầu thì tốt nhất dùng chúng vào buổi chiều và ưu tiên dùng càc loại mang tính kiềm thấp.
1- Thuốc lá.
2- Rượu.
3- Tương cà chua.
4- Rau tươi, hoa quả tươi đóng hộp chưa qua muối.
5- Canh rau xanh tươi.
6- Canh thịt hầm dừ với rau tươi.
7- Mỡ hỗn hợp.
8- Bơ thực vật.
9- Bơ đóng hộp, đặc biệt có gốc thực vật.
10- Dầu thực vật.
11- Bột chưa lên men.
12- Sữa tươi và sữa đun sôi.
13- Nước có ga.
14- Mì ống.
15- Bánh mì đang nóng.
16- Các loại đậu.
17- Cà phê.
18- Ca cao.
19- Các loại hạt có vỏ cứng.
20- Kẹo ngọt khanva.
21- Tiểu mạch, kiều mạch và các loại cháo nấu với sữa và nước.
22- Các món độn.
23- Đồ ngọt.
24- Mứt.
25- Nước hoa quả.
26- Mận.
27- Lê.
28- Các loại rau và hoa quả tươi nhập ngoại và trái mùa.
Nên nhớ: sữa cá hủy hoại màng tế bào (nguy hại, gây ung thư).
Biên soạn: Bùi Huy Bằng
Theo sách:
Методики доктора Д. В. Наумова
(Các phương pháp luận của TSKH Đ.V. Naumov)
Редакция вестника “ЗОЖ”, 2007
“Bệnh nhân cần không phải là chữa trị,
mà là nuôi dưỡng đúng cách”
“Điều liên quan đến y học thì hiển nhiên đã rõ ràng.
Mô hình của xã hội hiện đại là thế này, tất cả đều
muốn kiếm chác trên các bệnh tật của con người:
từ các bác sĩ đến các tập đoàn bảo hiểm và các tập
đoàn chế biến thuốc!”
Đ.V. Naumôv
Tiến sĩ khoa học Y khoa
NGUYÊN NHÂN SINH BỆNH Ở TUYẾN DẠ DÀY – RUỘT
Có 3 nguyên nhân chính:
1- Do sử dụng lâu ngày thức ăn mang tính kiềm (pH>7). Chẳng hạn đồ ăn kiêng từ thực vật, trong đó khẩu phần ăn thiếu rau muối chua, thịt, mỡ, trứng, pho mát tươi, váng sữa,…
2- Do hội chứng đau dạ dày – đốt sống: phần cột sống vùng ngực bị hư xương sụn (thoái hóa), chèn ép các bó dây thần kinh chi phối tuyến dạ dày- ruột, làm cho tuyến này hoạt động không bình thường.
3- Do stress, gây ức chế khả năng hoạt động của nhiều cơ quan trong cơ thể, đồng thời dây thần kinh phế vị có thể bị kích thích dẫn đến môn vị suy yếu, tiêu chảy v.v.
Nguyên nhân thứ 2 có thể khắc phục bằng cách luyện tập để kéo dãn và nắn thẳng cột sống theo phương pháp luận của Iu.V. Pôpôp (xem tài liệu kèm theo).
Nguyên nhân thứ 3 có thể khắc phục bằng biện pháp tâm lý, chủ yếu là ổn định tư tưởng, tinh thần và điều chỉnh cảm xúc theo hướng lành mạnh.
Dưới đây đề cập đến nguyên nhân thứ 1- nguyên nhân diễn ra hàng ngày.
Sơ lược về tuyến dạ dày – ruột:
MÔN VỊ - bộ phận có cấu tạo bởi cơ đai thắt có chức năng như một cái VAN, ngăn cách khoang dạ dày với khoang hành tá tràng. Theo giải phẫu sinh lý, môi trường trong dạ dày là AXÍT (pH<7), ở người bình thường pH ≈ 2; môi trường trong hành tá tràng là KIỀM (pH>7). Đi kèm để phục vụ cho quá trình tiêu hóa còn có gan, mật, tụy. Ở người khỏe, van (môn vị) thường xuyên đóng, ở người bệnh khả năng co bóp giảm (do nhão cơ thắt), van ở trong trạng thái mở kéo dài.
Khả năng hoạt động bình thường của van phụ thuộc chủ yếu vào cách nạp dinh dưỡng. Nếu trong đồ ăn có prôtít hoặc thức ăn chua (chẳng hạn rau muối chua), nghĩa là chúng mang tính axít (pH<7) thì axit clohydric (HCl) và dịch vị có trong dạ dày bắt đầu phân tách các mảnh thức ăn đó thành axit amin, glyxerin và axit béo rồi được hấp thụ qua dạ dày vào máu. Khi đó, độ axit của dạ dày giảm, van mở để các mảnh thức ăn chưa tiêu hóa hết mang tính kiềm (pH>7) tuồn xuống hành tá tràng. Trong dạ dày lại hình thành axit clohydric, van lập tức đóng, nghĩa là môi trường axit của dạ dày lại được ngăn cách với môi trường kiềm của hành tá tràng. Quá trình này cứ lặp đi lặp lại. Còn ở hành tá tràng thức ăn mang tính kiềm tiếp tục được tiêu hóa nhờ dịch tụy và dịch mật cũng mang tính kiềm, rồi tuồn xuống dưới qua ruột non, ruột già. Các chất bổ dưỡng (axit amin, glyxerin, axit béo) được hấp thụ nốt qua hệ thống ruột vào máu, còn cặn bã tích lại ở trực tràng để thải ra ngoài.
Đây là hoạt động bình thường của van (môn vị), đặc trưng cho cơ thể khỏe mạnh. Nếu trạng thái này bị phá vỡ bởi 3 nguyên nhân chủ yếu nêu trên, trong đó có nguyên nhân thứ 1 làm van (môn vị) suy yếu, mở kéo dài thì sẽ xảy ra tình trạng:
1)- Thức ăn mang tính kiềm trào ngược sang dạ dày làm cho dạ dày bị kiềm hóa, niêm mạc dạ dày bị teo dần, rồi viêm loét, biến dạng và kéo theo mô của môn vị bị viêm nhiễm làm cho nó nhão ra và càng suy yếu thêm.
2)- Thức ăn trong dạ dày chưa kịp tiêu hóa, mang tính axit, tuồn sớm xuống hành tá tràng làm cho hành tá tràng bị axit hóa dẫn đến bệnh tương tự như ở dạ dày.
3)-Khi môi trường ở hành tá tràng bị axit hóa thì tuyến tụy và tuyến mật bị ức chế sinh ra viêm nhiễm.
4)- Thức ăn ở hành tá tràng mang tính axit không được tiêu hóa hết trong môi trường kiềm, tuồn xuống ruột, bị ô xy hóa, lên men rồi thối rữa bởi vi khuẩn gây hại, gây đầy hơi, làm giảm số lượng và chất lượng chất dinh dưỡng cung cấp cho cơ thể.
Toàn bộ vòng luẩn quẩn nêu trên sẽ làm xuất hiện hàng loạt bệnh trầm trọng mà y học chính thống chưa giải thích đúng bản chất nguyên nhân sinh ra chúng. Như: viêm dạ dày, loét dạ dày và hành tá tràng, viêm loét đại tràng, táo bón, trĩ, viêm túi mật, viêm tụy, nấm canđiđa ở ruột, huyết áp cao, huyết áp thấp, sỏi trong các cơ quan nội tạng, co hẹp các mạch máu, xơ vữa động mạch, hẹp van tim v.v. Theo TSKH Đ.V. Naumov, do nuôi dưỡng lâu ngày không đúng cách làm VAN (MÔN VỊ) đóng mở không đúng lúc hoặc mở kéo dài, do đó khoang dạ dày và khoang hành tá tràng thông nhau, gây ra phản ứng trung hòa AXÍT của dạ dày với KIỀM của hành tá tràng, dẫn đến đầy hơi, hình thành các tinh thể muối không hòa tan như: phốt phát, uralat, ocxalát, tinh thể axit uric và cặn bã lắng đọng trong máu và thành mạch máu dẫn đến các bệnh nói trên.
Việc điều trị các bệnh đó theo y học chính thống chủ yếu là khắc phục triệu chứng (cắt các cơn đau hoặc phẫu thuật) chứ không phải khắc phục nguyên nhân gây bệnh. Điều này gây ra nguy hại về lâu dài. Do căn bệnh chưa được điều trị tận gốc, người bệnh tuy bước đầu cảm thấy dễ chịu, sinh ra ảo tưởng và chủ quan, trong khi đó bệnh vẫn cứ ngấm ngầm tiến triển theo chiều hướng xấu, kết cục căn bệnh trở thành mãn tính, lúc đó việc chữa trị gặp khó khăn và phức tạp.
Từ các phương pháp luận về bệnh ở tuyến dạ dày – ruột, tiến sĩ khoa học Đ.V. Naumôv đưa ra nhiều kết luận quan trọng về nguyên nhân gây bệnh, xin trích dẫn một số kết luận tiêu biểu sau đây:
1)- Không có bệnh loét, về bản chất nó không tự sinh ra. Vì trong quá trình hình thành vết loét thì dịch axit của dạ dày sản sinh quá ÍT (chứ không phải THỪA axit), dịch mật của gan và dịch của tụy cũng vậy, nghĩa là phổ hoạt động của các men tiêu hóa bị thu hẹp.
2)- Xoắn khuẩn HÊLICOBACTER không phải là thủ phạm chính gây ra loét (thuyết về xoắn khuẩn Hêlicobacter đã được giải Nôben). Khoa bệnh lý dạ dày – ruột của Viện hàn lâm Y học Đnheprôpêtrôvxk (Nga) dưới sự lãnh đạo của giáo sư I.I. Gritxenco đã đưa ra các số liệu sau đây: trong số 60% số người phát hiện thấy khuẩn Hêlicobacter chỉ có 4% trong đó có cái gọi là bệnh loét. Hơn nữa xoắn khuẩn này chỉ tồn tại ở môi trường axit yếu (ở dạ dày người bệnh) chứ không thể tồn tại ở môi trường axit mạnh (dạ dày người khỏe). Để diệt trừ xoắn khuẩn Helicobacter người ta dùng kháng sinh (có nguồn gốc là muối axit của nấm) lại càng vây hãm, ức chế hoạt động của gan và tụy (vốn có môi trường kiềm), gây ra bệnh biến dạng vi khuẩn ở ruột, làm xuất hiện các cơn đau ở gan, làm các vết loét tiến triển với mức độ càng phức tạp.
3)- Lượng colexterin cao không phải là nguyên nhân gây bệnh xơ vữa động mạch. Vì, thứ nhất luận thuyết này (của Viện sĩ Anhitrcốp đưa ra năm 1912) dựa trên cơ sở thí nghiệm ở thỏ (động vật ăn cỏ) để suy ra nguyên nhân gây bệnh ở người là không phù hợp; thứ hai có rất nhiều người bị xơ vữa động mạch lại có chỉ số colexterin ở mức chuẩn. Tác giả cho rằng nguyên nhân gây bệnh là do rồi loạn trao đổi chất bởi hệ tiêu hóa hoạt động không bình thường.
4)- Cắt bỏ túi mật do viêm tắc bởi sỏi (khi chưa đe doạ nứt vỡ) không phải là biện pháp tối ưu vì khi túi mật bị loại bỏ thì sỏi vẫn hình thành ở các cơ quan nội tạng khác. Hơn nữa vẫn còn những biện pháp khác để làm tan sỏi.
5)- Nguyên nhân gây viêm tuyến tiền liệt (bệnh của đàn ông) do trục trặc ở hệ bạch huyết chứ không phải là những nguyên nhân được đề cập trong y học chính thống (nhiễm khuẩn đường sinh dục, nhiễm lạnh, stress, rạn cơ), mà nguồn gốc vẫn là rối loạn trao đổi chất do trục trặc ở hệ tiêu hóa gây ra.
CÁCH CHỮA BỆNH
1- Khử kiềm ở dạ dày:
Trước khi ăn sáng 1 giờ, ăn 1/2 cốc (loại 200ml) bã bắp cải tươi.
Cách làm: Cải bắp tươi rửa sạch, nghiền nhỏ vắt lấy bã, nước có thể bỏ đi hoặc giữ lại và bảo quản ở nhiệt độ trong nhà (để lên men) rồi uống vào lúc trước khi đi ngủ, có pha thêm chút muối. Thực hiện trong khoảng 2-3 tuần lễ.
Nếu người có bệnh huyết áp cao - ăn bã củ cải đỏ, có bệnh ợ nóng – ăn bã củ cà rốt, có bệnh thiếu máu – ăn bã quả táo.
2- Axit hóa cơ thể:
Uống nước chua ngâm từ lá bạch khuất thái (chỉ có ở Nga) hoặc từ vỏ chuối.
Cách làm: Dùng bình thủy tinh miệng rộng có dung tích khoảng 3 lít, đổ đến vai bình nước sôi để nguội, hòa một cốc đường và một thìa trà váng sữa (hoặc một thìa ăn sữa chua), khuấy đều. Lấy khoảng mười vỏ quả chuối tiêu loại to, chín lấm tấm (tài liệu không định rõ số lượng), cắt ngang cỡ 3-5mm, cho vào túi vải xô cùng một cục đá đủ nặng để dìm chìm trong đáy bình. Bịt miệng bình bằng 3 lớp vải xô (nếu bình có nắp thì đậy kênh để không khí lọt vào). Để ở nơi tối và thoáng trong nhà, khoảng 2 tuần lễ là dùng được. Nước chua có màu vàng ngà, uống có cảm giác hơi say là đạt yêu cầu. Chắt ra khoảng 1 lít để dùng dần. Còn lại gạn bỏ cặn, bổ sung đủ nước và 1/3 cốc đường, cứ như vậy độ 3-4 lượt thì bỏ bã và làm đợt khác.
Liều dùng: từ một thìa ăn đến 1/3 cốc, hòa với 1/2 cốc nước ấm. Uống 3 lần/ngày, trước bữa ăn 30-40 phút, có thể dùng dài ngày như nước giải khát.
3- Nuôi dưỡng cơ thể đúng cách:
- Không ăn kiêng, không ăn chay.
- Nguyên tắc chung: Bảo đảm đủ và thường xuyên lượng axit nhât là axit clohyđic (HCl) ở mọi dạng thực phẩm để tiêu hóa.Dùng thức ăn mang tính axit vào buổi sáng (khi dạ dày hoạt động mạnh), hạn chế dùng thức ăn mang tính kiềm, nếu muốn sử dụng thì dùng vào buổi chiều (khi hành tá tràng hoạt động mạnh) - Tham khảo phụ lục phía dưới.
Người bệnh, nhất là đang ốm nặng hạn chế dùng đồ ăn chứa nhiều prôtit, mỡ,…Nói chung chỉ nên ăn đến mức vẫn còn thòm thèm.
- Cung cấp đa dạng các prôtit từ thịt, cá, trứng, mỡ (chúng mang tính axit). Ưu tiên sử dụng thực phẩm biển. Nên dùng protit ở phần đầu bữa ăn.
- Rau: Không dùng rau tươi (mang tính kiềm) dưới mọi dạng. Cần ăn rau muối chua từ cải bắp, dưa chuột, cà rốt, củ cải đỏ và các loại nấm. Rau muối phải bảo đảm đủ chua (nén 2-3 tuần lễ), không bổ sung dấm hoặc đường và không kích thích nhiệt độ. Một số người cần thận trọng với cà muối và dưa cải muối (điều này không có trong tài liệu gốc)
- Canh: nấu từ rau muối chua kèm thịt hoặc cá và ninh dừ. Súp: nấu từ cải bắp muối kèm khoai tây và mỡ tảng ninh kỹ có tác dụng rất tốt.
- Cháo: nấu từ hỗn hợp các loại ngũ cốc có bổ sung muối, bơ kem, váng sữa.
- Tránh hoàn toàn dầu thực vật tinh luyện (mang tính kiềm cao). Nên dùng dầu thực vật thô, ép nguội. Nhưng tốt nhất vẫn là dùng mỡ lợn (ngược với quảng cáo hiện nay – NBS).
- Ăn xa lát cần bổ sung váng sữa và một chút muối. Nên ăn sau khi đã ăn các thức ăn có prôtit (mang tính axít).
- Khuyến khích dùng gia vị: tương hạt cải, dấm, hành, tỏi để kích thích tiêu hóa.
- Hoa quả tươi nên ăn vào buổi chiều (vì chúng mang tính kiềm).
4- Uống:
- Nên uống sau khi ăn 1 giờ.
- Uống nước sạch, nước đun sôi để nguội hoặc nước chua (xem điểm 2). Không uống nước chua khi đang chữa bệnh sỏi. Không nên uống nước chanh tươi vì nó mang tính kiềm (xem điểm 6). Uống trà xanh, trà đen thì bổ sung 1-2 thìa trà dấm ăn (loại 9%) vào cốc nước hoặc dấm ngâm lá ngải cứu khô (xem điểm 7).
5- Ngậm muối:
Sau bữa ăn khoảng 30 phút đặt lên đầu lưỡi 0,5-1g muối, chờ muối tan và dịch vị tiết ra càng nhiều càng tốt, xúc miệng nhiều lần rồi nuốt. Biện pháp này nhằm cung cấp Cl trong NaCl để hình thành và bổ sung HCl trong dạ dày. Đối với những bệnh nhân có huyết áp cao, bệnh thận thì sử dụng muối ở phạm vi cho phép.
6- Thuốc uống:
Đối với bệnh ở tuyến dạ dày – ruột tác giả chỉ đề cập đến thuốc UROLEXAN (thuốc của Nga) để củng cố chức năng thận (chưa rõ ở VN có bán không). Uống 10-15 giọt kèm theo 1 viên đường, 3 lần/ngày giữa chừng các bữa ăn.
Ngoài ra có thể tự chế biến dung dịch để tăng cường hệ mạch máu theo cách::
Nguyên liệu gồm: 100 ml thuốc nước glyxerin, 2 quả chanh, 100g mật ong.
Chanh rửa sạch, chần nước sôi, mài cả quả thành bột, trộn ba thứ với nhau, cho vào lọ thủy tinh, để trong tủ lạnh, dùng dần. Uống 1 thìa canh, 3 lần/ngày, sau bữa ăn 1,5 giờ.
7- Xoa người:
Xoa khắp người hoặc chí ít tứ chi bằng dung dịch dấm ăn ngâm lá ngải cứu khô nhằm bổ sung cho cơ thể axit clohydrit (HCl), đồng thời khắc phục tình trạng lạnh ở tứ chi.
Lấy 1/2 lít dấm ăn (9%) ngâm với 1 cốc (loại 200ml) lá ngải cứu khô, để trong 2-3 ngày, lọc lấy dung dịch. Lấy 1 phần dung dịch dấm ngải cứu pha với 2 phần nước ấm, xoa khắp người hoặc tứ chi 3-4 lần/ngày.
8- Nhịn ăn:
Nhịn ăn dài ngày là vấn đề phức tạp, có thể dẫn đến teo dạ dày và các bộ phận khác của tuyến dạ dày – ruột, vì vậy cần có sự tư vấn và theo dõi của chuyên gia. Tuy nhiên nhịn ăn thường kỳ 1 ngày trong 1 tuần lễ sẽ đem lại lợi ích khỏi phải bàn cãi, vì lẽ các men tiêu hóa thực hiện tiếp quá trình tiêu hóa phần thực phẩm còn sót lại hoặc các phần tử không cần thiết trong cơ thể, kết cục toàn cơ thể được thanh lọc.
Cách thực hiện: Buổi chiều trước ngày nhịn, ăn cháo nấu từ hỗn hợp các loại ngũ cốc và cháo bột mì kèm bơ kem. Những thứ này sẽ lưu lại ở ruột một thời gian ngắn và đóng vai trò như các chất hút. Ngày hôm sau, cần uống nước đã được khoáng hóa ở mức độ yếu (với thành phần muối không lớn hơn 0,6g/lít). Kết thúc đợt nhịn, cần ăn bắp cải biển, xúp cải bắp muối, cá biển, cá trích, cải bắp muối, bánh mì trắng để khô, xúp đậu côve. Các thực phẩm này được liệt kê theo trình tự từ dễ tiêu hóa nhất đến khó tiêu hóa hơn./
PHỤ LỤC: Các thực phẩm mang tính kiềm (pH>7).
(Liệt kê theo thứ tự mang tính kiềm cao đến thấp).
Những thực phẩm này hủy hoại môi trường axit của dạ dày nếu dùng nhiều và thường xuyên, đặc biệt là ở những người bệnh. Nếu vẫn có nhu cầu thì tốt nhất dùng chúng vào buổi chiều và ưu tiên dùng càc loại mang tính kiềm thấp.
1- Thuốc lá.
2- Rượu.
3- Tương cà chua.
4- Rau tươi, hoa quả tươi đóng hộp chưa qua muối.
5- Canh rau xanh tươi.
6- Canh thịt hầm dừ với rau tươi.
7- Mỡ hỗn hợp.
8- Bơ thực vật.
9- Bơ đóng hộp, đặc biệt có gốc thực vật.
10- Dầu thực vật.
11- Bột chưa lên men.
12- Sữa tươi và sữa đun sôi.
13- Nước có ga.
14- Mì ống.
15- Bánh mì đang nóng.
16- Các loại đậu.
17- Cà phê.
18- Ca cao.
19- Các loại hạt có vỏ cứng.
20- Kẹo ngọt khanva.
21- Tiểu mạch, kiều mạch và các loại cháo nấu với sữa và nước.
22- Các món độn.
23- Đồ ngọt.
24- Mứt.
25- Nước hoa quả.
26- Mận.
27- Lê.
28- Các loại rau và hoa quả tươi nhập ngoại và trái mùa.
Nên nhớ: sữa cá hủy hoại màng tế bào (nguy hại, gây ung thư).